Thuốc điều trị viêm gan C và những điều cần biết

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều thuốc điều trị viêm gan C thế hệ mới được phát minh và đưa vào sử dụng. Tại Việt Nam, Interferon và Ribavirin là 2 loại thuốc thường được sử dụng để điều trị viêm gan C.

Thuốc điều trị viêm gan C và những điều cần biết 1Thuốc điều trị viêm gan C và những điều cần biết (Ảnh minh họa)

Các thuốc điều trị viêm gan siêu vi C

Interferon

Intereron là gì? Interferon là một loại cytokine, thuộc nhóm các protein tự nhiên được sản xuất bởi tế bào của hệ miễn dịch. Khi có cảm thụ với virus, tế bào sẽ sản xuất Interferon, bằng nhiề cơ chế khác nhau Interferon sẽ ức chế sự hoạt động của mARN, dẫn đến ức chế virus sinh sản, từ đó làm chúng không thể sinh trưởng và phân hóa. Do vậy, Interferon được đưa vào sử dụng trong y tế như một chất để điều trị không đặc hiệu cho mọi nhiễm trùng do virus, trong đó có điều trị viêm gan C. Cơ thể chúng ta có thể tạo nhiều loại Interferon khác nhau, trong đó loại Interferon được áp dụng làm thuốc điều trị bệnh gan C chỉ là Alpha-Interferon thuộc type I.

Cơ chế hoạt động của Interferon. Interferon nhạy cảm với phần lớn các RNA hay DNA của virus, nhưng cơ chế và cường độ tác động thì phụ thuộc vào từng loại virus khác nhau. Chúng không tác động trực tiếp lên virus mà tác động gián tiếp thông qua nhiều cơ chế khác nhau:

  • Ức chế sự gắn virus vào receptor ở bề mặt tế bào
  • Ngăn cản sự thoát vỏ bọc của virus
  • Ức chế sự tổng hợp mRNA
  • Sự mã hóa các protein virus,…
  • Với nhiều loại virus, hiệu lực chính của interferon là ức chế sự tổng hợp protein virus.

Sau khi nhiễm virus, tế bào bị cảm ứng và sản sinh ra interferon, interferon không có tác dụng bảo vệ tế bào mẹ mà chỉ bảo vệ các tế bào bên cạnh, ở các tế bào này virus vẫn hấp phụ lên vách tế bào và xâm nhập vào bên trong tế bào, nhưng đến giai đoạn sao chép thông tin của virus thì interferon có tác dụng ức chế, kìm hãm sự tổng hợp mARN của virus, mARN của virus không được tổng hợp thì sự chuyển hóa axit nucleic và protein của virus cũng không tiến hành được, do đó không có hạt virus mới được giải phóng ra. Nguyên nhân là khi interferon ngấm vào tế bào đã gây cảm ứng để hoạt hóa một đoạn gen của tế bào này nhằm tổng hợp ra một chất gọi là protein kháng virus (AVP: antivaral protein), chính protein kháng virus này là nhân tố cản trở sự nhân lên của virus, cụ thể là cản trở phiên dịch thông tin từ mARN.

Tác dụng phụ khi sử dụng Interferon. Trong giai đoạn đầu sử dụng thuốc, tác dụng phụ thường gặp của Interferon-α là hội chứng giả cúm, 50-60% người bệnh sẽ gặp các triệu chứng: s ốt, đau đầu, đau cơ, buồn nôn, nôn, ra mồ hôi, vv. Các triệu chứng này sẽ giảm dần theo thời gian điều trị, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm giác mệt mỏi. Nếu sử dụng kéo dài, Interferon có thể gây nhiều ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, thần kinh, gan và thận  (gặp ở 15 – 30% bệnh nhân).

Ribavirin

Ribavirin là một loại thuốc kháng virus có có cấu trúc trương tự như necleosid guanosine – một trong 4 thành phần cơ bản của ARN. Khi vào cơ thể, Ribavirin được hấp thu nhanh chóng với độ sinh khả dụng 33-69%. Ribavirin có tác dụng ức chế truyền tin ARN để ngăn chặn virus viêm gan C phiên bản, đồng thời ngăn cản chúng sao chép mà không làm ảnh hưởng đến chức năng của tế bào bình thường, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hệ miễn dịch tiêu diệt và đào thải virus ra khỏi cơ thể. Ribavirin phải được sử dụng kết hợp với một sản phẩm Interferon-α để điều trị viêm gan C và thuốc không có hiệu quả khi sử dụng một mình.

Ribavirin thường có dạng viên nén hoặc viên nang và không bị giảm tác dụng bởi thức ăn khi sử dụng qua đường tiêu hóa. Khi sử dụng kết hợp Interferon với Ribavirin để điều trị viêm gan siêu vi C thì tỷ lệ khỏi bệnh là 50-70% (tùy từng thể virus) và tỷ lệ tái phát hàng năm là dưới 5%.

Tác dụng phụ của Ribavirin. Ribavirin thường gây cũng triệu chứng giả cúm; ngoài ra còn một số tác dụng phụ khác như thiếu máu huyết tán; buồn nôn, nôn; khô miệng, viêm miệng, viêm lưỡi; khó tiêu, đau bụng, viêm dạ dày, loét dạ dạ, đầy bụng, tiêu chảy hoặc táo bón; sút cân, chán ăn; đau ngực, tim đập nhanh; ngất; rối loạn giấc ngủ; mệt mỏi, giảm trí nhớ, giảm tập trung, dễ bị kích động, lo âu, trầm cảm; rối loạn kinh nguyệt; giảm khả năng tình dục, bất lực; phát ban, ngứa, mày đay; rụng tóc, khô da, vv.

Ribavirin không được dùng cho phụ nữ có thai và không được có ý định mang thai trong thời gian điều trị và nhiều tháng sau thời gian điều trị, vì thuốc này có tiềm năng gây quái thai.

Sofobuvir

Ngoài Interferon và Ribavirin, hiện nay còn có 1 loại thuốc thế hệ mới đang được sử dụng trong điều trị viêm gan C, đó là Sofobuvir. Sofosbuvir ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của phác đồ điều trị viêm gan C cũ. Một số ưu điểm có thể nói đến như:

  • Tỷ lệ khỏi bệnh cao, lên tới 93 – 99%
  • Thời gian điều trị ngắn
  • Mở rộng phạm vi điều trị cho các các bệnh nhân: xơ gan, gan mất bù có chống chỉ định với Interferon
  • Ít tác dụng phụ, vv

Nhiều quốc gia như: Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippines đã đưa Sofobuvir vào phác đồ điều trị cho bệnh nhân viêm gan C. Tuy nhiên, Sofosbuvir vẫn chưa được phép sử dụng tại Việt Nam. Bởi theo Luật Dược ở Việt Nam, bất kỳ loại thuốc mới nào trên thế giới phải được sử dụng ít nhất 5 năm ở nước ngoài mới được phép nhập khẩu vào trong nước.

Hơn thế nữa, Sofobuvir có giá thành rất cao. Một lộ trình điều trị viêm gan C với Interferon và Ribavirin đã dao động từ 60-120 triệu đồng tiền thuốc chưa kể chi phí làm xét nghiệm, khám bệnh. Mà phác đồ với Sofobuvir lại còn có giá thành còn cao hơn gấp nhiều lần.

Nên xem: Bệnh viêm gan C và cách điều trị

Trên đây là bài viết về các loại thuốc điều trị viêm gan C. Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và nắm bắt thông tin. Mọi thông tin về việc sử dụng thuốc cũng như liều lượng dùng cần có sự chẩn đoán và kê đơn chính xác của bác sĩ, bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý mua và sử dụng khi chưa có chỉ định. Mọi thắc mắc về bệnh viêm gan C các bạn có thể liên lạc với chúng tôi qua tổng đài miễn phí hoặc để lại bình luận để được các chuyên gia tư vấn thêm.

Việt Nam đang là một trong những nước có tỷ lệ người mắc  viêm gan B, viêm gan C cao và chịu hậu quả nặng nề do căn bệnh này gây nên. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ nhiễm virus viêm gan của một số nhóm dân cư là từ 6 – 20% đối với virus viêm gan B và khoảng 0,2 – 5% với virus viêm gan C. Viêm gan C là một căn bệnh nguy hiểm, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như xơ gan, ung thư gan. Chính vì vậy, việc chủ động phòng tránh viêm gan C là trách nhiệm của toàn dân nói chung và mỗi cá nhân nói riêng để bảo vệ sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của mình.

 

comments

Viemganc.vn